Đề Xuất 11/2022 # Dota 2 Lore (P.4): Bảy Cõi Giới Và Bốn Thần Lực Cơ Bản Trong Vũ Trụ Dota 2 / 2023 # Top 18 Like | Beiqthatgioi.com

Đề Xuất 11/2022 # Dota 2 Lore (P.4): Bảy Cõi Giới Và Bốn Thần Lực Cơ Bản Trong Vũ Trụ Dota 2 / 2023 # Top 18 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Dota 2 Lore (P.4): Bảy Cõi Giới Và Bốn Thần Lực Cơ Bản Trong Vũ Trụ Dota 2 / 2023 mới nhất trên website Beiqthatgioi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Vũ trụ Dota 2 được chia ra làm bảy cõi giới (The Seven Planes) của sự tồn tại, mỗi thế giới đều có những đặc trưng riêng của nó. Các thực thể vật chất du hành qua các cõi giới phải hứng chịu những lực ma sát cực mạnh tác động lên cơ thể. Các linh hồn lạc lỗi giữa các cõi giới đến sau cùng sẽ trở thành các khoáng vật. Việc du hành giữa các cõi giới đặc biệt nguy hiểm, vì luôn tồn tại những kẻ săn mồi giữa các chiều không gian rình rập trong các góc khuất giữa các thế giới.

1. Cõi giới vật chất (Terrene Plane): Thế giới nơi hầu hết các sự kiện trong Dota 2 diễn ra. Theo lời Elder Titan, đây là thế giới nơi diễn ra trận chiến cuối cùng. Và chữ “cuối cùng” này hẳn là mang ý nghĩa y hệt chữ “final” trong dòng game (Not a) Final Fantasy. Vì ngày qua ngày, những trận chiến “cuối cùng” giữa Radiant và Dire vẫn diễn ra đều đặn và chưa có dấu hiệu kết thúc. Theo các dòng sử chắp vá, thế giới vật chất chỉ là một bóng phản chiếu mờ nhạt của một cõi giới khác chưa được đặt tên, nơi khởi nguồn của Hero Spirit Breaker.

2. Tinh giới (Astral Plane): Thế giới nơi hình bóng của linh hồn Elder Titan trú ngụ. Bóng của linh hồn của Elder Titan được gọi là Tinh Linh (Astral Spirit). Còn về bản thân Elder Titan, ngài tồn tại ở bảy cõi giới cùng lúc.

3. Cõi giới nguyên thủy (Primordial Plane): Nhiều khả năng là thế giới nơi các linh hồn tới sau khi chết.

4. Thần lực giới (Fundamental Plane): Thế giới nơi các Thần lực (Fundamental) tới sau khi chết. “Một chiều không gian xa phía thượng nguồn, nơi những Thần lực cơ bản của vũ trụ bộc lộ tri giác.”

5. Bản nguyên giới (Elemental Plane): Thế giới khởi nguồn của Hero Spirit Breaker.

6. Foulfell: Một chiều không gian ẩn, thỉnh thoảng vẫn được gọi là “ngục giới” (prison plane). Đây là nơi các con quỷ giam cầm những đồng loại sa ngã của mình.

7. Ma giới (Spectre’s Plane): Một thế giới không tên (tên tiếng Việt do Oreo đặt), nơi bắt nguồn của Hero Spectre. Nó được biết đến là một cõi giới của sự hỗn loạn và những quyền năng tàn bạo.

ĐẾN BỐN THẦN LỰC CƠ BẢN CỦA VŨ TRỤ

Thần lực cơ bản (Fundamental) là những thực thể nguyên thủy quyền năng, mỗi thần lực đại diện cho một dạng sức mạnh chi phối vũ trụ. Các thần lực tồn tại bên ngoài giới hạn của cõi giới vật chất, và mang những quyền năng chi phối các định luật tự nhiên. Các thần lực được tạo thành bởi Elder Titan trong cuộc Đại phân chia (The Schism), khi vị thủy tổ sáng tạo này tạo hình vũ trụ. Khi một thần lực chết đi, nó trở về Thần lực giới. Bốn Hero đại diện cho bốn thần lực này là Io, Chaos Knight, Keeper of the Light và Enigma.

Io tồn tại ở mọi nơi và hiện hữu trong vạn vật. Kẻ thù xem nó như kẻ hủy diệt vĩ đại, còn các học giả thì tôn sùng nó như thiên nhãn lấp lánh của thánh thần, Tinh linh kỳ lạ của sự sống nắm giữ tất cả các thế giới cùng lúc, trong khi những mảnh nhỏ nhất của nó tồn tại ở thế giới vật chất hầu như mọi thời điểm.

Giống như cặp kỵ sĩ sinh đôi vĩ đại Bóng tối và Ánh sáng, Io là một kẻ du hành cổ đại mà quá khứ thật của nó đã phai mờ theo thời gian. Io the Wisp là một thần lực cơ bản của vũ trụ, một thần lực cổ xưa hơn cả thời gian, một kẻ lạc đường đến từ những vương quốc vượt quá tầm hiểu biết của người thường. Io đơn giản là tổng hợp của toàn bộ những lực hút và đẩy bên trong vật chất, một thực thể cảm xúc giữ vai trò ràng buộc các sự vật lại với nhau. Chỉ duy nhất trong không gian nơi những tia điện từ bị bẻ cong có kiểm soát này, sự hiện diện của Io mới được nhận thấy ở chiều không gian vật chất. Bằng thần lực nhân từ và đầy thiện chí, Io liên kết từ tính lạ thường của nó đến đồng minh để sức mạnh của họ có thể được gia tăng. Với động cơ bí ẩn và sức mạnh không tưởng, Io cứ thế di chuyển xuyên qua cõi giới vật chất, nó là một minh chứng hoàn hảo cho sự kỳ bí khôn lường của vũ trụ.

Là cựu chiến binh của vô số trận chiến ở hàng ngàn thế giới, kỵ sĩ hỗn mang Chaos Knight (CK) được sinh ra ở một cõi giới xa phía thượng nguồn, nơi những Thần lực cơ bản của vũ trụ bộc lộ tri giác. Trong tất cả các thần lực cổ đại, hắn là kẻ cổ xưa nhất và bền bỉ nhất, không ngừng tìm kiếm một sinh thể mà hắn chỉ biết đến với cái tên “Ánh sáng”. Rất lâu trước đây, Ánh sáng đã mạo hiểm thoát khỏi vương quốc khởi nguyên, như một sự thách thức với giao ước đầu tiên. Giờ đây Chaos Knight chu du từ thế giới này sang thế giới khác, trong cuộc săn đuổi không ngừng nghỉ nhằm dập tắt Ánh sáng ở bất cứ nơi đâu hắn tìm thấy. Hàng ngàn lần nguồn Ánh sáng bị dập tắt cũng là hàng ngàn lần hắn lướt qua một thế giới khác để tiếp tục lặp lại cuộc tìm kiếm của mình.

Trên lưng bạch mã ngài lang thang, vạn dương vạn kiếp vạn sắc quang, trông coi ánh sáng đây ắt hẳn, quang minh thủ vệ của nhân gian (bản dịch thơ của Trune, Mod Dota 2 Steam Translation Server). Rất lâu trước kia, Ezalor, Người canh giữ Ánh sáng, đã trốn thoát khỏi chiều không gian của các Thần lực cơ bản, tách khỏi sự ràng buộc với những thần lực cổ đại khác trong mối hòa hợp vĩ đại của trí tuệ nguyên thủy. Bên trong một thực thể quyền lực như hắn, thứ gọi là cảm xúc đã nảy mầm từ buổi bình minh của vũ trụ, và giờ hắn cưỡi ngựa băng qua tất cả các thế giới, luôn đi trước một bước so với kỵ sĩ hỗn mang đang đuổi theo phía sau, mang theo bên mình cây gậy phép tỏa ánh sáng rực rỡ nơi đầu gậy do chứa đựng quyền năng của hắn. Hình dạng thật đầy uy nghi của hắn được giấu dưới vẻ bề ngoài của một ông cụ già nua, yếu ớt mà đến việc ngồi vững được trên yên ngựa thôi đã là may mắn. Tuy nhiên, khi đối mặt với thách thức của sự hỗn mang, hay những thế lực khác của bóng tối, ánh sáng nguyên thủy của hắn bùng nổ, và sức mạnh thật sự của hắn được phơi bày, hắn biến đổi trở lại thành một thần lực mà bất cứ ai cũng phải dè chừng.

Không ai biết về nguồn gốc của Enigma. Chỉ có những câu chuyện và truyền thuyết, và hầu hết chúng đều là ngụy tác, được truyền lại qua nhiều thời đại. Thật sự, Enigma là một bí ẩn mà tiểu sử của hắn chỉ có một chi tiết duy nhất đáng tin: hắn là một thần lực của vũ trụ, kẻ hấp thụ các thế giới. Hắn là một thực thể của hư không, có lúc hữu hình, có khi siêu thực. Một con quái thú tồn tại giữa các cõi giới.

Có nhiều câu chuyện kể rằng hắn từng là một nhà giả kim thuật vĩ đại, người cố tìm cách khám phá bí mật tối thượng của vũ trụ và bị nguyền rủa vì sự ngông cuồng của mình. Một số truyền thuyết khác lại nói hắn là một thực thể cổ xưa mang quyền năng kỳ lạ của lực hấp dẫn, một hang sâu tăm tối được nhân cách hóa – một tiếng nói bị vặn xoắn từ bóng tối nguyên sơ nhất, trước khi tia sáng đầu tiên của vũ trụ xuất hiện. Có những truyền thuyết cổ xưa hơn nói rằng hắn là ngôi sao đầu tiên sụp đổ, một lỗ đen phát triển tới mức tinh vi và xuất hiệh xúc cảm – động cơ của hắn không thể đoán định, quyền năng của hắn là không thể ngăn cản, một thần lực hủy diệt được giải phóng vượt quá chính bản thân của sự tồn tại.

Có thể thấy rằng giữa Chaos Knight và Keeper of the Light có một mối hận thù sâu sắc và dường như là bất diệt. Kỵ sĩ bóng tống Chaos Knight luôn truy đuổi “Ánh sáng” trong một cuộc rượt đuổi bất tận, qua vô số các thế giới. Chaos Knight luôn gọi Ezalor là thứ thần lực giả hiệu (rogue fundamental), vì Ezlor là thần lực đầu tiên rời bỏ vương quốc khởi nguồn, phá bỏ mối ràng buộc nguyên thủy. Không những vậy, Ezalor còn là người sáng tạo nên các mặt trời cổ đại đầu tiên.

Ngựa Chaos Knight cưỡi tên là Armageddon. Và có vẻ như CK không hề quan tâm tới việc con thú mà người khác cưỡi là gì, hắn quy tất cả những thú cưỡi của các Hero khác vào một loại duy nhất là “ngựa” (Ví dụ cụ thể nhất là CK gọi con dơi của Batrider là “ngựa bay”).

Theo Hero Omniknight, đấng Omniscience có thể nhìn thấy tất cả các bản thể ở mọi cõi giới của Chaos Knight. Còn đấng đó là ai thì hẹn dịp khác chúng ta nói tiếp.

Pudge gọi Chaos Knight và Enigma là những kẻ hợm hĩnh (a snob).

Bốn thần lực cơ bản của vũ trụ Dota 2 tương đồng với bốn lực cơ bản của vật lý trong thế giới thật. Tương ứng theo từng Hero:

+ Enigma: Lực hấp dẫn

+ Keeper of the Light: Lực hạt nhân yếu

+ Chaos Knight: Lực hạt nhân mạnh

+ IO: Lực điện từ.

Hẹn gặp lại các bạn trong phần 5 của series Dota 2 lore.

Cùng Series

Giữa nước lọc và bia không cần phải có cà phê.

Dota 2 Lore (P.9): Nụ Hôn Thần Chết / 2023

Thế giới không phải lúc nào cũng rạch ròi giữa trắng và đen, giữa thiện và ác, hay thậm chí giữa sống và chết. Trong Dota 2, có những kẻ sống ngay trên ranh giới mong manh của sự sống và cái chết, những thực thể bất tử, bất diệt đã gặp mặt thần chết rồi trở lại nhân thế hết lần này tới lần khác. Dẫu vậy, sự sống từ lâu đã bị bòn rút khỏi cơ thể chúng tới mức thật khó để biết liệu trong những thân thể khô héo lụi tàn chứa đầy quyền năng của cái chết kia, có còn chút sinh khí nào vương vấn hay không?

CLINKZ THE BONE FLETCHER, CUNG THỦ LỬA MANG LỜI THỀ MÁU

Trải dài dưới chân vùng núi Bleeding Hills là một khu rừng bạt ngàn mang tên The Hoven, nơi có những hồ đen chứa đầy hắc ín đổ về từ vùng cao nguyên phía trên, cũng là nơi vua pháp sư Sutherex nhân từ trị vì. Từng là người đã tuyên thệ bảo vệ vùng đất Hoven, Clinkz nổi tiếng khắp nơi nhờ tài bắn cung thiện xạ của mình. Vào năm trị vì thứ 300 của vua pháp sư, quỷ vương Maraxiform đến từ địa ngục thứ sáu đã trỗi dậy đòi quyền cai trị vùng đất yên bình này. Để đáp trả, vua pháp sư đã tạo ra một câu thần chú không thể phá vỡ: bất cứ ai tiêu diệt được tên ác quỷ sẽ được ban tặng Sự Sống Vĩnh Hằng.

Không màng đến phần thưởng, Clinkz lao vào cuộc chiến bảo vệ quê hương mình, chống lại cuộc tấn công tàn bạo của quỷ vương. Cuối cùng, Clinkz đã đẩy lùi Maraxiform về tận chính cánh cổng của địa ngục thứ sáu. Ở ngưỡng cửa âm ti nơi hỏa ngục rực cháy, cả hai lao vào nhau trong trận chiến một mất một còn. Bị thương nặng, quỷ vương phóng ra quả cầu lửa địa ngục trong khi Clinkz cũng buông mũi tên cuối cùng. Mũi tên xuyên trúng quỷ vương cũng là lúc ngọn lửa âm ti lan rộng khắp nơi, làm bùng cháy những hồ hắc ín và thiêu sống Clinkz ngay khoảnh khắc quỷ vương bỏ mạng. Ngay lúc quỷ vương tàn đời, câu thần chú của vua pháp sư liền phát huy tác dụng, giúp Clinkz thoát chết trong gang tấc, dù phải mang hình hài gớm ghiếc của một ngọn đuốc sống. Trên thế gian giờ đây xuất hiện một sinh thể mang hình hài bộ xương cháy khét và chất chứa đầy sự phẫn nộ, Clinkz bị kẹt giữa lằn ranh vĩnh hằng của 2 cõi âm dương, mang theo mình hơi thở của địa ngục trong hành trình tồn tại kéo dài vô tận.

KROBELUS THE DEATH PROPHET, TIÊN TRI TỬ THẦN

Krobelus là một Tiên tri Tử thần (Death Prophet) – một tên gọi ngụ ý rằng ả ta là người tiết lộ vận mệnh cho những tay giàu có nhất trong số những kẻ ao ước được vén bức màn bí ẩn về thế giới bên kia. Sau nhiều năm tìm lời giải cho số phận người khác, ả bắt đầu khát khao tìm kiếm những manh mối về vận mệnh của chính mình. Khi cái chết từ chối đưa ra những bí mật của chốn âm ti, ả đã cố dùng mạng sống của chính bản thân để đánh đổi nó. Nhưng cái giá cuối cùng đó vẫn không đủ. Cái chết trả ả về hết lần này đến lần khác và luôn luôn giữ lại những bí ẩn sâu kín nhất của nó. Nỗi ghen tức trong lòng ả ngày càng tăng. Những kẻ khác có thể chết để được trường tồn – sao ả lại không thể? Tại sao chỉ mình ả bị ném ngược trở lại vùng rìa sự sống một cách thường xuyên đến chán chường như vậy? Tại sao ả không xứng đáng được hưởng cái đặc ân mà tất cả các sinh vật sống khác đều được hưởng? Dù vậy, ả vẫn không nản lòng. Mỗi lần trở về từ cõi chết, ả mang một phần nhỏ của cái chết về cùng. Xung quanh ả là những hồn ma lởn vởn tựa như những mảnh linh hồn đã vụn vỡ của chính ả; máu của ả lỏng đi và biến tính thành ngoại khí; những sinh vật sống về đêm xem ả là đồng loại… Cứ mỗi lần chết đi sống lại, ả lại rũ bỏ được thêm một chút sự sống khỏi bản thân, và có vẻ như kết thúc của ả đã nằm trong tầm với. Hiến dâng trọn vẹn cho cái chết, không màng đến vận mệnh của ai khác ngoài chính bản thân ả, Krobelus ném bản thân mình vào vực thẳm của tử thần một cách mạnh mẽ hơn bao giờ hết với mong muốn hoàn thành lời tiên tri luôn lảng tránh ả bấy lâu nay: Một ngày nào đó, Tiên tri Tử thần sẽ không còn phải quay về từ cõi chết thêm lần nào nữa.

OSTARION THE WRAITH KING, VONG LINH VƯƠNG

Trong nhiều năm ròng, Vua Ostarion đã xây nên một vương quốc từ chỗ hài cốt còn sót lại của kẻ thù. Đó là một công việc đầy ám ảnh, được thực hiện để vượt qua sự vĩnh hằng bất tận của một chế độ quân chủ có vẻ như đã được định sẵn là sẽ không có ngày tàn. Hắn đã từng tin rằng chỉ cần những ngọn tháp nguy nga của điện xương mọc lên, hắn sẽ trở nên bất tử. Nhưng cuối cùng hắn hiểu ra rằng mình đã lầm… rằng bản thân xương cốt cũng có thể mục nát theo thời gian. Mang nặng mối hồ nghi đối với xác thịt trần tục, hắn quyết tâm tìm kiếm một phương cách bền vững hơn để kéo dài sự thống trị của mình, và cuối cùng quyết định tập trung vào việc theo đuổi năng lượng của các hồn ma, một dạng năng lượng tâm linh thuần khiết phát ra bởi những linh hồn tăm tối ở chốn âm ti. Nếu hắn có thể truyền Tử Chất (Wraith Essence) vào chính bản thân mình, hắn nghĩ hắn sẽ tạo ra được một cơ thể chói lòa và bất diệt giống như bản ngã của hắn vậy. Vào đêm thiên niên chí được biết đến với tên gọi Vong Linh Dạ (Wraith-Night), hắn cúi mình trước một nghi lễ biến hình, ép buộc các bầy tôi phải thu thập đủ số linh hồn để phục vụ cho tham vọng bất tử của tên bạo chúa là hắn. Không ai biết bao nhiêu dũng tướng của hắn đã hy sinh, nhưng có hề gì khi kẻ duy nhất cần tồn tại chính là hắn – Vong Linh Vương (Wraith King), đã trỗi dậy khi vầng thái dương của buổi rạng đông hôm sau vừa ló dạng. Giờ đây, hắn hiếm khi ngự trên chiếc ngai rực rỡ của mình – thay vào đó, hắn xông ra chiến trận với thanh gươm giơ cao, yêu cầu một lời thề trung thành kéo dài vượt xa cõi chết.

UNDYING THE ALMIGHTY DIRGE, XÁC SỐNG TRỞ VỀ

Từ khi nào hắn đã lãng quên tên gọi của chính mình? Tâm trí đã vụn vỡ của hắn không còn nhớ rõ nữa.

Những hình ảnh mờ nhạt của áo giáp, cờ hiệu và những kẻ đồng tộc với gương mặt tàn bạo cưỡi ngựa bên cạnh hắn lờ mờ hiện ra. Ký ức về một trận chiến chập chờn trong đầu hắn: nỗi đau và sự khiếp sợ khi những bàn tay nhợt nhạt kéo tuột hắn khỏi yên ngựa, nỗi kinh hoàng khi kẻ thù ném hắn cùng đồng bọn vào cái hố Tử Thần đen ngòm đang ngoác miệng, sự khiếp đảm khi khúc nhạc cầu siêu Dirge vang vọng bên tai và khi sự trống rỗng nuốt chửng lấy hắn. Trong bóng tối sâu thẳm bên dưới, thời gian rời bỏ bọn hắn. Suy nghĩ rời bỏ bọn hắn. Sự tỉnh táo rời bỏ bọn hắn. Cơn đói, dẫu vậy, vẫn cứ ở đó. Cả bọn lao vào ngấu nghiến lẫn nhau bằng những móng tay nứt toát và hàm răng vỡ nát. Rồi nó đến: Lúc đầu hãy còn rất xa, một nốt nhạc mong manh vang lên đâu đó nơi ranh giới của nhận thức, một nốt khác, rồi lại một nốt khác, những âm thanh không thể lẩn trốn và kéo dài không hồi kết. Rồi điệp khúc lớn dần lên thành một bức tường âm thanh sống động đập từng nhịp, từng nhịp vào tâm trí của hắn cho đến khi không còn ý nghĩ nào khác tồn tại trong đầu hắn nữa. Đắm mình trong khúc cầu siêu Dirge, hắn dang tay đón nhận Tử Thần và chào đón sự thanh tẩy cho bản thân. Nhưng mục nát trong cõi chết không phải là phần số của hắn. Tử Thần yêu cầu chiến tranh. Giữa lòng cõi hư vô vĩ đại, hắn được ban cho một sứ mệnh mới: lan truyền khúc cầu siêu Dirge xuyên khắp các vùng đất, để khiến cái chết không mệt mỏi trỗi dậy chống lại sự sống. Hắn đã trở thành kẻ bất diệt Undying, sứ giả của Tử Thần, trỗi dậy, rồi lụi tàn, rồi tiếp tục trỗi dậy muôn đời muôn kiếp dù xác thịt có tiêu tan. Lê bước qua cái chết bất tận, khúc cầu siêu Dirge sẽ mãi trường tồn.

MISCELLANEOUS

Sau trận chiến định mệnh với quỷ vương, dù tồn tại giữa lưng chừng sự sống với thân thể bị thiêu cháy, Clinkz vẫn tiếp tục giữ vững trọng trách tuần tra bảo vệ The Hoven. Tuy vậy, theo mỗi bước chân, thân thể của anh lại phải gánh chịu sự đau đớn khủng khiếp.

Clinkz nổi tiếng vì bản tính nóng nảy dễ bộc phát, dù vậy anh vẫn được các cư dân The Hoven tôn trọng vì những chiến công của anh.

Clinkz sở hữu một cây cung được làm từ xương của tổ tiên anh, cây cung này mang tên Heat, và được mô tả là “tất cả những gì còn lại của tổ tiên Clinkz, chứa đầy những linh hồn cháy bỏng và những lời khuyên không mong đợi”.

Ngoài cung tên, trang bị của Clinkz còn được rèn bởi các Smeevil. Smeevil là một giống loài nhỏ bé mang hình dáng tương tự con người. Một số chúng sống quanh vùng The Hoven. Clinkz sở hữu một chiếc móng sắt được rèn bởi các Smeevil, và một mũ trụ bằng sắt được chế tác bởi một Smeevil mù.

Krobelus tự nhận là đã chứng kiến trận chiến giữa hai thế lực Nguyên thủy nhiều lần trong những giấc mơ của mình. Mỗi lần hồi sinh trong game, ả thường hay nói “Ta đã tới đây nhiều lần trong những giấc mơ”.

Krobelus có lẽ đã dùng máu của chính mình để tạo nên một loại mực bóng tối, nhằm viết nên những tiên đoán về tương lai của chính ả.

Tuyệt kỹ tối thượng của Krobelus, cũng là ultimate trong game của ả – Lễ Trừ Tà (Exorcism), có thể gọi ra vô số linh hồn để tấn công theo lệnh ả. Thực ra, chúng chính là linh hồn của những tiền kiếp đã chết đi rồi sống lại hết lần này đến lần khác của Krobelus. Thỉnh thoảng, những linh hồn và thực thể khác như dơi, ngài, hay các linh hồn hoang dã,… có thể được ả triệu hồi về để chiến đấu. Đây là những linh hồn mà ả từng giáp mặt khi đi đến thế giới bên kia. Lý do chúng tự nguyện nghe lệnh triệu hồi của Krobelus có lẽ vì thẳm sâu trong trái tim ả, một tia sáng yếu ớt của sự sống vẫn lập lòe thoi thóp. Dù nhỏ bé, tia sáng hiếm hoi này đủ hấp dẫn để lôi kéo những sinh vật trong vương quốc tối tăm của cái chết về cùng với ả. Không chỉ có động vật, những linh hồn con người vừa mới chết, còn lưu luyến sự sống luôn cố bám theo ả để được ả mang trở về nhân giới. Những linh hồn tội nghiệp này cuối cùng bị biến thành những bộ trang phục kỳ dị, quái gở mà ả khoác lên khi trở về. Không rõ, được trở về nhân gian theo cách đó có đúng với ước nguyện của chúng hay không.

Trong quá khứ, Krobelus có lẽ được nuôi dạy bởi một người phụ nữ được gọi với tên Cô dâu Tử thần (Death’s Bride). Không ai biết gì về người phụ nữ đó, chỉ có những lời đồn đại và một ít kỷ vật mà bà ta để lại cho Krobelus trẻ tuổi trước khi ra đi.

Krobelus có vẻ như đã quen biết Hero Rhasta the Shadow Shaman từ trước. Khi gặp nhau trong game, Krobelus thường chào “Ồ Rhasta, vẫn chơi trò bác sĩ hả?”

Ostarion trước đây còn được biết đến với tên gọi Cốt Vương (Skelenton King), nhưng sau cuộc chiến bản quyền của Valve với Blizzard, à không sau nghĩ lễ biến hình vào đêm Vong Linh Dạ, Ostarion đã chính thức biến thành Vong Linh Vương (Wraith King). Thỉnh thoảng, trong game Wraith King vẫn được gọi là Vua Xương (Bonelord).

Theo góc nhìn của Ostarion, sự hy sinh của toàn bộ những dũng tướng trong công cuộc thu nhặt linh hồn cho hắn trong đêm Vong Linh Dạ là cống vật mà hắn đáng được nhận.

Sau đêm biến thân đầy ma mị đó, Ostarion hầu như không nhớ gì về vương quốc xương trước kia của mình. Hắn từng nói rằng “Ta chẳng nhớ gì nhiều về lễ đăng quang đầu tiên của ta. Ngọn lửa vong linh đã ngấu nghiến những ký ức đó rồi.”

Như mọi ông vua ham chinh phạt khác, Ostarion thích thú với chiến trường, máu và lửa. Sau mỗi lần tiêu diệt kẻ thù, hắn thường đội vương miện của họ như một cách để vinh danh các chiến công của bản thân. Vũ khí, xương cốt và áo giáp của kẻ thù thì được trưng dụng sau đó. Chẳng hạn như sau khi giết chết các Dead King, các bầy tôi của Ostarion đã lấy xương Dead King làm chuôi kiếm, nung chảy áo giáp của chúng thành lưỡi kiếm rồi dâng lên cho Ostarion. Sau khi kết liễu hiệp sĩ Dreadknight, Ostarion cũng chiếm lấy áo giáp của kẻ xấu số cho riêng mình.

Ostarion là một vị vua phong kiến chuẩn mực, khi vừa ham mê quyền lực, chinh phạt, vừa tràn đầy dục vọng với nữ nhân. Ostarion từng buông lời trêu ghẹo Hero Queen of Pain (aka Dota 2 sex symbol) rằng “Ôi Queen of Pain, giá như ta mang xác thịt phàm trần, ta nguyện dâng chúng cho nàng tra tấn tùy thích”.

Trong số các kẻ thù của Ostarion, nổi tiếng nhất phải kể đến Công tước xứ Levinthal. Trong công cuộc chinh phạt Levinthal, đội quân bất bại của Ostarion đã vấp phải sự chống trả quyết liệt của quân đội thành phố do Công tước chỉ huy. Sau nhiều ngày vây hãm, cuối cùng, Công tước đã quyết định bước ra đấu một chọi một với Ostarion. Đáng buồn thay, Ostarion đã giết vị Công tước can trường và tước lấy thanh gươm gãy của ông ấy về làm chiến lợi phẩm. Hắn gọi thanh gươm đó là thanh Kiếm Rạn của Levinthal.

Không có gì nhiều để nói đến Undying, chỉ biết rằng Dirge vừa là tên của khúc cầu siêu, vừa là tên người ta gọi hắn. Giống như những bầy tôi khác của Tử Thần, Dirge thường mang trên mình bộ giáp của cựu quốc nơi hắn phục vụ trước đây, trước khi bị biến thành xác sống.

Hero Mireska the Dark Willow từng trộm vài món đồ rất giá trị được chôn theo Undying trước đây, nhưng cô từ chối trả lại hắn. Khi gặp Undying, Mireska hay nói “Tôi sẽ không trả lại những gì mình trộm đâu!”.

Phần 9 tới đây là hết, hẹn gặp lại các bạn trong số sau, với nhiều thông tin hơn về các Hero Dota 2. Rất cảm ơn các bạn đã đón đọc.

* Nguồn ảnh bìa: Jean-Baptiste Oudry, Death nature with shooting gear and flowers.

Cùng Series

Dota 2 Lore (P.15): Hầu Vương Truyện / 2023

Hình tượng Tề thiên Đại thánh đại náo thiên cung đã quá gần gũi và quen thuộc với mọi người. Không chỉ ngoài đời thực, những truyền thuyết về Vua Khỉ vẫn luôn có sức quyến rũ đặc biệt với mọi sinh vật trong thế giới Dota 2, đặc biệt là lũ trẻ con. Bên ánh lửa bập bùng, chúng thường tụ tập và rỉ tai nhau những câu chuyện về Sun Wukong the Monkey King. Những câu chuyện thần tiên kết hợp với đầu óc bay bổng và ngây thơ của trẻ con càng làm cho những giai thoại thêm phần bí ẩn. Thật hay giả? Đúng hay sai? Làm gì có ai biết được…

VISAGE VÀ RAZOR, KẺ CAI QUẢN ÂM TI

Ngự trên đỉnh của lối vào Mê lộ Hẹp (Narrow Maze) là những hình bóng lúc ẩn lúc hiện của các gargoyle với khuôn mặt cười nhăn nhở và cặp mắt đăm đăm chưa từng dịch ánh nhìn khỏi con đường dẫn vào cõi vĩnh hằng. Dã thú và chim chóc, con người và quái vật, tất cả các sinh vật sau khi chết nếu đã quyết định du hành qua thế giới bên kia, không sớm thì muộn đều phải băng qua mê lộ dưới ánh nhìn của chúng. Khi một linh hồn rời khỏi xác, nó buộc phải thực hiện hành trình sang bên kia dù muốn hay không. Tuy vậy, nếu may mắn, cộng thêm một chút tinh ranh và xảo quyệt, vài linh hồn còn vấn vương trần thế có thể trốn thoát khỏi nơi thiên đường hay địa ngục mà chúng đang trú ngụ. Đây là lúc Visage, một gargoyle đáng sợ, thực thể của linh hồn bất diệt Necro’lic, được phái đi để bắt chúng trở về. Tàn nhẫn và hiệu quả, không bị cản bước bởi cái chết hay sự mệt mỏi, Visage săn đuổi con mồi đến tận cùng, không thương xót, không ngừng nghỉ, sẵn sàng tiêu diệt tất cả những ai dám bao che, giúp đỡ các linh hồn chạy trốn. Tất cả các cuộc săn và thanh trừng đó là để thể hiện luật lệ sắt đá của thế giới bên kia. Việc linh hồn có thể trở về từ cõi chết là thật, tuy nhiên chỉ là vấn đề thời gian trước khi Visage tìm thấy và mang chúng về lại nơi chúng thuộc về.

Trong số các thế lực đại diện cho nơi âm giới Underscape, Razor the Lightning Revenant là kẻ đáng sợ hơn hết thảy. Với ngọn roi sét của mình, hắn tuần tiễu vùng Mê cung Hẹp, một mạng lưới chằng chịt những con đường mà các linh hồn đã chết được phân loại dựa theo trí tuệ, sự khéo léo và sức bền bẩm sinh. Lướt đi bên trên mê lộ, Razor nhìn xuống những linh hồn lạc lối phía dưới, giáng xuống những nhát roi điện bỏng rộp, choáng váng để vừa trừng phạt, vừa thúc giục các linh hồn nhanh chóng quyết định vận mệnh của chính mình, gấp rút tiến về nơi ánh sáng vĩnh hằng hay bóng đen vô tận. Razor là hiện thân vĩnh cửu của quyền lực áp đảo, không do dự và gần như vô cảm, hắn chỉ tập trung vào việc sử dụng sức mạnh của mình. Tuy vậy, khí chất của kẻ nắm quyền toát ra từ hắn, mỉa mai thay, lại cho thấy rằng hắn hài lòng với hiện tại của mình.

Những tưởng với những thực thể quyền lực như vậy canh gác âm ti, sẽ không ai dám đến làm càn tại nơi này. Nhưng Hầu Vương đã tới và thay đổi tất cả…

SUN WUKONG THE MONKEY KING, BA LẦN ĐẠI NÁO

Hầu Vương Sun Wukong là một thực thể quyền lực, theo các câu chuyện cổ xưa nhất, hắn được sinh ra từ một hòn đá thiêng đã yên lặng chứng kiến hành trình của sự sáng tạo từ thuở khai thiên lập địa. Sun Wukong từng sục sạo khắp mặt đất để tìm một vũ khí xứng đáng với mình nhưng không thấy, nên hắn đã tiến xuống biển sâu. Tại đây, vua của vùng biển Đông lúc đó là Tide Hunter đã nửa đùa nửa thật gợi ý Wukong đến lấy Như ý Kim cô Bảng (Jingu Bang) đang được phong ấn tại nhà tù Dark Reef (nơi giam giữ Slark). Với sức mạnh phi thường, Sun Wukong đã nhấc bổng cây gậy nặng mười bảy ngàn cân (nguyên gốc tiếng Anh: seventeen thousand pound staff) lên và thu nhỏ nó về kích thước vừa tay hắn. Không chỉ làm khuấy động đại dương, Sun Wukong còn vô tình làm chấn động Dark Reef, khiến hàng tá tên tội phạm nguy hiểm lợi dụng sơ hở để thoát ra. Nhưng số bọn tội phạm quá dendi, ngay sau đó Sun Wukong đã ra tay diệt gọn tất cả, ngoài một tên đủ ranh ma và không kém phần may mắn sống sót và chạy thoát được, chính là Slark.

Vốn tính thích đùa, sau lần quậy phá dưới biển, Sun Wukong bị Razor gài bẫy và đưa tới Mê lộ Hẹp. Nếu là người người bình thường hẳn sẽ cuống cuồng tuyệt vọng tìm đường thoát, nhưng Wukong không phải người bình thường. Thay vì chạy trốn sự truy đuổi của Razor bên trong mê lộ, Wukong tìm nơi ẩn nấp để phục kích và tấn công ngược lại Razor. Một trận chiến kinh hoàng đã xảy ra, nhưng trước giờ Razor luôn là kẻ săn đuổi, hắn chưa bao giờ trở thành con mồi như hôm nay. Cuối cùng, Hầu Vương giành chiến thắng và lấy được quyển sổ Sinh Tử (Book of Life and Death) của Razor. Sau khi nhận ra tên mình được viết trong cuốn sổ, Wukong xé bỏ trang ấy đi và từ đó trở nên bất tử.

Nổi giận trước sự xấc xược, dám vượt quá quy luật sinh tử tự nhiên của Sun Wukong, Ai Sơn tứ thánh* (Xin, Kaolin, Raijin, N/A) đã hợp sức tấn công Hầu Vương. Dù là một chiến binh mạnh mẽ, nhưng bốn đánh một không chột cũng què, Wukong bị đánh bại và bị ném vào lò lửa vĩnh cửu của Xin. Thay vì tiêu diệt Wukong, ngọn lửa của Xin đã trui rèn hắn để hắn thêm mạnh mẽ. Sau bảy bảy bốn mươi chín ngày trong lò lửa, Sun Wukong bước ra, tỏa ánh hào quang sáng chói và mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Thiên ngoại hữu thiên, nhân ngoại hữu nhân. Dẫu mạnh mẽ cách mấy, vẫn có những thực thể mạnh hơn Hầu Vương. Và rồi ngày Sun Wukong đại bại cũng tới.

Bên dưới nhà tù đá nặng ngàn cân do các vị thần cổ xưa tạo nên, Sun Wukong nằm đó, bị đè chặt năm trăm năm trong núi đá, chỉ có phần đầu được tự do – hậu quả của cuộc náo loạn xốc nổi năm nào của hắn. Trên gương mặt trơ trọi của hắn mọc đầy rêu, những búi cỏ bắt rễ vào tai hắn, và đôi mắt hắn bị che mờ bởi lũ lượt những nhành hoa dại trổ ra từ đất bám trên gò má. Hầu hết mọi người nghĩ hắn đã chết do chịu sự trừng phạt dữ dội của những vị thần vì dám phát động chiến tranh chống lại thiên giới. Nhưng những huyền thoại về hắn vẫn tồn tại. Và theo như các câu chuyện kể lại, Hầu Vương là bất tử.

Nên hắn tiếp tục đợi. Cho đến ngày các thần tới và cho hắn một cơ hội được ân xá, hắn từ chối. Chỉ đến khi các thần nói ra phần thưởng của mình, Sun Wukong mới chấp nhận giao ước với họ: hắn sẽ hộ tống một thầy tu trong một cuộc hành hương bí mật, bảo vệ người ấy khỏi ma quỷ và những nguy hiểm dọc đường đi, và đưa ông ấy trở lại quê nhà sau khi đã lấy được thánh tích tối cao. Cứ vậy, ngoan ngoãn vâng lời và phụng sự nhiệm vụ thiêng liêng của người ấy, Sun Wukong sẽ chứng minh được hắn thật sự đã hối cải.

Trái với dự đoán, Sun Wukong hoàn thành danh dự lời hứa của mình với các vị thần, và rửa sạch mọi tội lỗi về cuộc bạo loạn trong quá khứ. Vị thầy tu, vốn học được nhiều điều sau bao gian nan thử thách, đã trở về ngôi đền quê hương với thánh tích trong tay, còn Wukong – lần đầu tiên trong đời được đứng chung mâm với các vị thần tối cao – đã trở nên bình tâm trong thoáng chốc để từ bỏ tính hiếu thắng và khát khao ngao du thuở xưa. Nhưng với bản tính nghịch ngợm bẩm sinh của Vua Khỉ, hắn chưa bao giờ chán việc chọc giận các vị thần.

FUN FACTs

Có vẻ đội ngũ viết lore cho Sun Wukong của Valve khá là… lười biếng khi bê gần như nguyên xi các sự kiện về Mỹ Hầu Vương trong tác phẩm của Ngô Thừa Ân vào phần lore của hắn, chỉ thay đổi một số chi tiết cho phù hợp hơn với thế giới Dota 2.

Chỉ tính riêng ở Dota 2, item Như ý Bổng aka Monkey King Bar đã xuất hiện từ rất rất lâu trước khi Sun Wukong ra mắt. Đến ngày Sun Wukong xuất hiện, tạo hình vũ khí của hắn cũng lấy cảm hứng từ item Monkey King Bar, nhưng dĩ nhiên chỉ để cho vui thôi, chứ Wukong vẫn phải bỏ tiền ra mua item hàng thật mới được cộng chỉ số và hiệu ứng như các hero khác, không phải cầm cây hàng giống giống mà mới sinh ra đã làm cha thiên hạ được đâu.

Phải nói Tôn Ngộ Không luôn là hình tượng nhân vật phổ biến và rất được lòng các nhà làm game MOBA (hay ARTS bla bla). Bằng chứng là trong các tựa game này luôn xuất hiện các vị tướng lấy nguyên mẫu là Tôn Ngộ Không. Trong LoL có Wukong the Monkey King, trong HoN có Sun Wukong, trong Dota cũng có, và còn kha khá tựa game khác nữa khai thác nhân vật này. Có thể vì hình tượng Ngộ Không được nhiều người biết đến, và vì nó… miễn phí, không phải tốn sức mua mượn bản quyền như những hình tượng nhân vật khác. Theo đánh giá của một số anh em chơi game cho vui đã kinh qua cả ba tựa game, thì Wukong của HoN có hệ thống skill sáng tạo và bá đạo hơn hẳn.

*Ai Sơn “tứ” thánh: trong phần X chúng ta đã biết tam thánh gồm Xin the Ember Spirit, Kaolin the Earth Spirit và Raijin the Storm Spirit. Hiện tại vị thánh thứ tư vẫn chưa ra mắt, nhưng trong một bản comic về Monkey King của Valve, vị thánh tinh linh thứ tư này đã lờ mờ xuất hiện. Hy vọng một ngày không xa, có lẽ là mùa hè tiếp sau mùa đông mà Valve ra mắt Hero Mars, chúng ta sẽ biết thêm thông tin về vị tướng này.

Cùng Series

Dota 2 Lore (P.x1R): Mặt Trăng Đen / 2023

Thuở ban sơ, khi khu rừng thiêng rậm rạp Nightsilver Woods vẫn còn là những bụi cỏ lơ thơ, một mảnh thiên thể từ mặt trăng đã rơi thẳng xuống nơi đây. Tin rằng đây là điềm báo, các cư dân quanh đó đã dựng lên một ngôi miếu cho Selemene (Shrine of Selemene) aka Nữ thần Mặt trăng (Goddess of the Moon) để tôn thờ người. Thời gian trôi qua, cây cối mọc lên ngày càng nhiều, kéo theo sự phát triển của các loài linh thú và linh thảo. Khu rừng Nightsilver Woods giờ đây trở thành một chốn linh thiêng, được bảo trợ bởi Nữ thần Mặt trăng Selemene và những bầy tôi trung thành của người, những kẻ được chính Nữ thần lựa chọn, hoặc tự nguyện hiến dâng, hoặc được định mệnh đưa đường dẫn lối tới vùng đất thánh Nightsilver Wood. Trong đó, hai bầy tôi nổi tiếng nhất của Nữ thần Selemene phải kể đến là Mirana the Princess of the Moon và Luna the Moon Rider.

MIRANA THE PRINCESS OF THE MOON, CÔNG CHÚA MẶT TRĂNG

Được sinh ra trong gia đình hoàng tộc, mang dòng máu công chúa được thừa kế Ngai báu Mặt trời (Solar Throne), nhưng Mirana tự nguyện từ bỏ tất cả quyền thừa kế đất đai hay tước vị trần tục để toàn tâm toàn ý phụng sự Selemene, Nữ thần Mặt trăng. Từ đó Mirana được gọi là Công chúa Mặt trăng (Princess of the Moon), người tuần tra không mệt mỏi của khu rừng thiêng Nightsilver Woods, ngày đêm săn lùng những kẻ cả gan đến trộm hoa sen ánh sáng linh thiêng trong hồ bạc của Nữ thần. Cưỡi trên lưng con linh miêu to lớn của mình, đĩnh đạc hiên ngang, kiêu hãnh và can đảm, cô hòa nhịp theo chu kỳ của mặt trăng và vòng quay vĩ đại của các chòm sao. Cánh cung của cô, với hai đầu được trám bằng những lưỡi đá mặt trăng sắc nhọn, nhận sức mạnh của mặt trăng để bắn đi những mũi tên ánh sáng.

LUNA THE MOON RIDER, KỴ SĨ ÁNH TRĂNG

Sao Luna có thể suy sụp tới mức này? Cô từng là Tai họa của Đồng bằng (Scourge of the Plains), một chỉ huy tàn nhẫn của con người và quái thú, có thể gieo rắc kinh hoàng bất cứ khi nào cô muốn. Giờ đây, ở xa đất mẹ của mình, nửa tỉnh nửa điên do hàng tháng trời lang thang và đói kém, quân đội của cô kẻ thì chết, kẻ lại sống dở chết dở. Khi cô đứng trước ranh giới của một khu rừng cổ đại, một cặp mắt phát sáng chăm chú dõi theo cô trên một cành cao. Một thứ gì đó đẹp đẽ và chết chóc đang săn mồi trong ráng chiều vàng úa. Không một tiếng động, nó khẽ đến và đi. Cơn thịnh nộ bao trùm cô. Nắm chặt con dao găm rỉ sét trong tay, cô đuổi theo con quái thú, hằng mong tìm lại một chút vinh quang của quá khứ, nhưng cô không bắt được con mồi của mình. Ba lần cô quây nó vào ngõ cụt giữa đá và cây, là ba lần cô nhảy xổ ra và chứng kiến hình bóng của nó mờ dần rồi đột ngột biến mất vào trong rừng thẳm. Dù mặt trăng sáng rực rỡ, và dấu vết của sinh vật đó rất dễ lần theo. Chạy đến đỉnh một ngọn đồi cao và quang đãng, con quái thú có hình dạng một con mèo khổng lồ đang ngồi chễm chệ, tập trung chờ đợi. Khi Luna bắt đầu khua con dao găm, con quái thú chồm người dậy, gầm lên và lao tới. Cái chết có vẻ như đã tới với cô sau một hành trình dài ở nơi đất khách quê người. Cô đứng thẳng người, bình tĩnh và sẵn sàng. Trong chớp mắt, con quái thú cướp lấy con dao từ tay cô và biến mất vào trong rừng. Tĩnh lặng. Rồi những người trùm đầu tiến tới. Bằng giọng nói đầy tôn kính, họ tiết lộ với cô rằng Selemene, Nữ thần Mặt trăng, đã chọn cô, hướng dẫn cô, và thử thách cô. Cô đã vô tình trải qua nghi lễ linh thiêng của Hội Trăng Đen (Dark Moon), hội chiến binh của rừng bạc Nightsilver Woods. Họ để cô lựa chọn: hoặc gia nhập Hội Trăng Đen và thề phục vụ Selemene, hoặc rời khỏi đây và không bao giờ trở lại. Không chút do dự, nắm lấy sự cứu rỗi của mình, cô từ bỏ quá khứ nhuốm máu, và đón nhận vai trò mới của mình, Luna của Hội Trăng Đen, một Kỵ Sĩ Ánh Trăng đáng sợ, tàn nhẫn và là người bảo hộ vĩnh viễn trung thành với Nightsilver Woods.

TRĂNG KHUYẾT LẠI TRÒN

Nằm sâu trong Nightsilver Woods là Đền Selemene (Temple of Selemene), được bảo vệ và canh giữ bởi Hội Trăng Đen. Vào mỗi kỳ trăng non, các tín đồ của Selemene lại tới đây, cùng hát những bài thánh ca và đốt các lễ vật để dâng lên cho Nữ thần, với hy vọng ánh trăng linh thiêng của Nữ thần sẽ soi sáng thêm lần nữa. Chính tại ngôi đền này, Mirana đã nhìn thấy viễn cảnh tham gia vào cuộc chiến Radiant – Dire, nhưng lúc đó cô vẫn chưa nhận ra đó là một điềm báo. Cô từng nói “Ta từng nhìn thấy viễn cảnh này ở đền Mene, nhưng ta không ngờ nó lại là một lời tiên tri.”

Selemene mang quyền năng rất lớn. Ánh trăng của bà có thể phát ra những tia năng lượng chết người, tấn công bất cứ kẻ nào dám xâm phạm rừng thiêng Nightsilver Woods. Bà có thể dùng ánh trăng để che lấp sự hiện diện của các bầy tôi, sẵn sàng cho những cuộc đột kích bất ngờ. Bà có thể triệu hồi những cơn mưa sao băng tấn công kẻ thù theo lời khẩn cầu của Mirana. Những lúc nguy cấp, theo lời kêu gọi của Luna, bà có thể đích thân xuất hiện và che mất mặt trời cũng như niềm hy vọng của kẻ thù, giáng cơn thịnh nộ của mặt trăng lên đầu những kẻ địch xung quanh không thương tiếc. Cùng với Hội Trăng Đen trung thành, những tưởng khu rừng của bà là bất khả xâm phạm. Nhưng tiếc thay…

Vào lúc trăng non cũng là lúc sức ảnh hưởng của Nữ thần lên thế giới này yếu nhất. Lợi dụng cơ hội đó, Man Tộc Trăng Đen (Dark Moon Horde), những kẻ suy đồi chống đối Selemene đã yểm một bùa chú khiến tất cả các chiến binh của Nữ thần ngủ say và tấn công vào ngôi đền của bà. Thất thế trước kẻ thù, Selemene phải kêu gọi năm Hero từ thế giới bên ngoài vào để giúp bà đánh tan đội quân xâm lược. Trận chiến cuối cùng diễn ra ngay bên ngoài ngôi đền của Selemene, và phần thắng may mắn thuộc về phía của Nữ thần.

MOON’s FRAGMENTS

Selemene được lấy cảm hứng từ Selene, Nữ thần Mặt trăng trong thần thoại Hy Lạp. Cô là con gái của Titan Hyperion và Theia và là chị của thần Mặt trời Helios và Nữ thần Bình minh Eos.

“Con mèo lớn hung tợn” đã thử thách Luna trước khi cô gia nhập Hội Trăng Đen sau này đã trở thành thú cưỡi của cô. Tên của nó là Nova, một giống linh miêu với bộ lông đen tuyền. Nova nuôi dưỡng Avon, một con mèo bướm (felmoth), con lai nở ra từ sự kết hợp giữa một linh miêu (feline) và Bướm Mặt Trăng (Lunar Moth). Sau này, tới lượt Avon trở thành thú cưỡi của Luna.

Thú cưỡi của Mirana là tên là Sagan, một linh miêu màu trắng. Món ăn khoái khẩu của nó là thịt nai.

Trước đây, trong DotA, Mirana được gọi là Nữ tu của Mặt trăng (Priestest of the Moon), nhưng giống như nhiều Hero khác, do vấp phải vấn đề bản quyền với nhà phát hành của “bom tấn” Diable Immortal nên phải đổi sang tên hiện tại.

Mirana giết Luna:

Luna, ngươi không có gì tốt hơn để làm sao?

Ta từng hy vọng nhiều hơn ở ngươi, Luna.

Kìm hãm tham vọng của ngươi lại, Luna.

Selemene tin ngươi. Ta thì không.

Luna, ngươi không nên nham hiểm như vậy.

Luna giết Mirana

Không có công chúa nào bất tử, Mirana.

Ta đã mong mỏi được giết cô nhiều năm rồi.

Đừng trách vì sao ta trở nên tham vọng.

Mặt trăng đã lặn, ban mai đã tới, hẹn gặp lại các bạn trong những số sau.

* Nguồn ảnh bìa: kazu67, chúng tôi

Cùng Series

Bạn đang đọc nội dung bài viết Dota 2 Lore (P.4): Bảy Cõi Giới Và Bốn Thần Lực Cơ Bản Trong Vũ Trụ Dota 2 / 2023 trên website Beiqthatgioi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!